• 29-04-2020
  • 60 Lượt xem

Thu thập chứng cứ trong vụ án hành chính

Luật Tố tụng hành chính có hiệu lực từ ngày 01/7/2011 quy định về chứng cứ, chứng minh và nguyên tắc thu thập chứng cứ phục vụ trong giải quyết các vụ án hành chính.

Các nguyên tắc về thu thập chứng cứ bao gồm:

1. Quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của đương sự

2. Xác minh thu thập chứng cứ của Tòaán

3. Trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ cho đương sự, Tòaán, Viện Kiểm sát

Khoản 1 Điều 8 Luật quy định: “Đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp”.

Với quy định này, việc thu thập chứng cứ là quyền và nghĩa vụ của đương sự. Đương sự phải cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình là một trong những nguyên tắc xuất phát từ quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự đối với việc khởi kiện của mình (Điều 7 Luật Tố tụng hành chính). Khi khởi kiện vụ án hành chính để Tòa án giải quyết và khẳng định rằng việc khởi kiện là có căn cứ và đúng pháp luật, thì các đương sự trong vụ án hành chính phải tự mình thu thập, cung cấp chứng cứ, tài liệu này cho Tòa án. Đó chính là việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự.

thu thập chứng cứ trong vụ án hành chính

Khi đương sự khởi kiện đến Tòa án thì họ là người hiểu rõ các tình tiết vụ việc nhất, họ biết rõ các tài liệu và chứng cứ liên quan đến việc khởi kiện của họ nằm ở đâu. Bên bị kiện cũng nắm rõ thủ tục, căn cứ của việc ra quyết định hành chính và hành vi hành chính như thế nào. Đó là lý do tại sao Luật tố tụng hành chính quy định các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp tài liệu chứng cứ cho Tòa án. Đối với người khởi kiện, họ phải chứng minh được quyền và lợi ích hợp pháp của họ bị xâm phạm; chứng minh tính hợp pháp và tính có căn cứ của yêu cầu khởi kiện. Người bị kiện là các cá nhân, cơ quan có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khởi kiện phải đưa ra được các tài liệu, chứng cứ để chứng minh quyết định hành chính, hành vi hành chính mà mình ban hành là có căn cứ và hợp pháp,…

Như vậy, theo quy định thì quyền, nghĩa vụ chứng minh không chỉ đặt ra với bên khởi kiện mà với cả bên bị kiện, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khi họ không đồng ý với yêu cầu của người khởi kiện. Đó không những là quyền mà còn là nghĩa vụ của các đương sự trong việc cung cấp tài liệu, chứng cứ để Tòa án ra phán quyết giải quyết vụ án khách quan, toàn diện, đúng pháp luật.

Nguyên tắc này thể hiện sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ của đương sự. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án hành chính, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp chứng cứ cho Tòa án; nếu đương sự không nộp hoặc nộp không đầy đủ thì phải chịu hậu quả của việc không nộp hoặc nộp không đầy đủ tài liệu, chứng cứ đó, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (khoản 1 Điều 77).

Các bên có quyền, nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ  hoặc cũng có quyền không đưa ra các tài liệu, chứng cứ nhưng phải chịu hậu quả của việc không đưa ra được các chứng cứ, tài liệu để chứng minh cho yêu cầu của mình. Trong trường hợp người khởi kiện không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình (không chứng minh được quyết định hành chính, hành vi hành chính là trái pháp luật) thì người khởi kiện sẽ bị bác yêu cầu khởi kiện. Còn nếu người bị kiện không đưa ra được chứng cứ, tài liệu chứng minh quyết định hành chính, hành vi hành chính do mình ban hành hoăc thực hiện là có căn cứ, đúng pháp luật thì có thể bị Tòa án huỷ một phần hoặc toàn bộ quyết định hành chính hoặc tuyên bố một số hoặc toàn bộ các hành vi hành chính là trái pháp luật (Điều 163 Luật Tố tụng hành chính).

Theo quy định tại khoản 1 của Điều 72 Luật Tố tụng hành chính thì: “Người khởi kiện có nghĩa vụ cung cấp bản sao quyết định hành chính hoặc quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, bản sao quyết định giải quyết khiếu nại (nếu có), cung cấp các chứng cứ khác để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình; Trường hợp không cung cấp được thì phải nêu rõ lý do”.

Quy định trên bắt buộc khi khởi kiện người khởi kiện phải cung cấp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ. Đây là các chứng cứ ban đầu trong quá trình xây dựng hồ sơ vụ án hành chính, bảo đảm cho việc thụ lý vụ án hành chính và giải quyết vụ việc hành chính được chính xác, kịp thời của Tòa án.

Luật Tố Tụng hành chính quy định đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu khởi kiện. Tòa án chỉ tiến hành thu thập chứng cứ khi đương sự đã áp dụng mọi biện pháp nhưng vẫn không tự thu thập được và có yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập. Với quy định này, Luật Tố tụng hành chính quy trách nhiệm cho đương sự và giảm được những công việc cho Thẩm phán. Đồng thời bảo đảm được tính minh bạch, khách quan, tránh việc Thẩm phán lạm dụng biện pháp thu thập chứng cứ có lợi cho một trong các bên đương sự, để ra phán quyết không đúng với bản chất của vụ án đang giải quyết, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Nguyên tắc quyền và nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ của đương sự là một nguyên tắc cơ bản của tố tụng hành chính. Các bên đương sự bình đẳng trong tố tụng hành chính, mặc dù bên khởi kiện là bên “yếu thế” hơn trong tố tụng hành chính. Tòa án sẽ không nghiêng về bên nào trong việc chứng minh sự thật khách quan của vụ án. Quyền và lợi ích của các bên đương sự do chính họ quyết định thông qua hoạt động thu thập, cung cấp tài liệu chứng cứ của mình. Tòa án chỉ nhân danh Nhà nước công nhận các quyền lợi ích hợp pháp của đương sự khi xét thấy có căn cứ và hợp pháp thông qua hoạt động chứng minh của đương sự.

Điều 38: Thẩm phán được tiến hành một hoặc một số biện pháp thu thập chứng cứ khi đương sự không thể tự mình thu thập được và có yêu cầu như: Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ hoặc xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định của Luật  tố tụng hành chính

 Điều 92: Thẩm phán được tự mình tiến hành một hoặc một số biện pháp sau để thu thập chứng cứ: uỷ thác thu thập tài liệu, chứng cứ.

LIÊN HỆ LUẬT LONG VIỆT ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN THEO CÁC ĐỊA CHỈ SAU

– Tầng 2 (phòng cộng đồng), tòa nhà B10A Nam Trung Yên, đường Nguyễn Chánh, quận Cầu Giấy, Hà Nội.

Email : luatlongviet@gmail.com

– Số 3 An Trạch, Đống Đa, Hà Nội.

Email: luatlongviet2@gmail.com

– Điện thoại tư vấn trực tiếp: 0914 377 437

Luật sư: Lê Thảo

Liên hệ
icon-zalo