• 26-04-2021
  • 256 Lượt xem

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Câu hỏi:

“Chào luật sư, tôi có vấn đề sau nhờ luật sư tư vấn giúp tôi. Tôi mua một mảnh đất của bà X từ năm 2015, thời điểm đó chúng tôi có làm hợp đồng và giao dịch bẳng tiền mặt, tôi cũng đến đó ở, tuy nhiên trên giấy tờ sổ đỏ vẫn là tên bà X. Đến đầu năm 2019, tôi mới biết mảnh đất này nằm trong diện tích đất bị thu hồi để xây dựng công trình công cộng vào năm 2021 và UBND quận đã ra quyết định thu hồi từ năm 2014. Tôi đã ngay lập tức liên hệ lại bà X để đòi lại số tiền đã trả cho bà khi mua đất, tuy nhiên bà ta trốn tránh và không chịu trách nhiệm với lý do đất đã bán cho tôi và tôi đã ở lâu rồi thì không bà không phải hoàn tiền gì cả. Trong khi hiện nay, sổ đó đứng tên bà X, UBND buộc dỡ bỏ nhà tôi xây trên đất, tiền bồi thường giải phóng mặt bằng trả cho người đứng tên trên số đỏ. Như vậy, tôi vừa mất tiền, mất đất mất nhà mà không được trả lại cái gì. Lúc này, tôi muốn hỏi luật sư là tôi cần làm gì để bảo vệ quyền lợi của mình và bắt bà X chịu trách nhiệm với tôi. Tôi cảm ơn Luật sư.”

Trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho chúng tôi. Với vấn đề nay, chúng tôi trả lời như sau:

Đầu tiên, chúng tôi xác định việc mua bán chuyển nhượng đất của bạn và bà X sau thời điểm có quyết định thu hồi đất và không có xác nhận của cấp có thẩm quyền sẽ không được công nhận (Căn cứ Điểm d- khoản 1 Điều 188 của Luật Đất Đai năm 2013). Như vậy, theo pháp luật thì quyền sử dụng thửa đất vẫn thuộc quyền sở hữu của bà X, mặc dù bạn đã thanh toán khoản tiền mua quyền sử mảnh đất cho bà X.

Tiếp đến, xác định hành vi bà X biết thời điểm mua bán thửa đất đã có quyết định thu hồi, cố ý không thông tin đến bạn và nhận tiền chuyển nhượng, có thái độ trốn tránh trách nhiệm khi bị phát hiện, đây là dấu hiệu của phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài.

tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Để bảo vệ quyền lợi hợp pháp và chính đáng của mình, bạn cần làm đơn tố cáo hành vi của bà X với cơ quan chức năng, căn cứ theo quy định của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản tại Điều 174 Luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 như sau:

“Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Trên đây là câu trả lời của chúng tôi, hi vọng sẽ giúp ích được bạn.

Liên hệ
icon-zalo